Design a site like this with WordPress.com
Tham gia

(44): “Ngã tư tạp hoá..”

Lần quay lại A Lưới này, tôi mất hơn một buổi sáng để tìm lại “ngã tư tạp hoá“. Tháng 5, đúng một năm về trước là lần cuối tôi ngồi ở quán nước “gì cũng có” chỗ đường giao của ngã tư, có hai ông bà lão người Tà Ôi thường xuyên nấu cho tôi bát mỳ tôm trứng ăn qua trưa ở đây, tận tuỵ phục vụ đến cả cách bóc trứng, nên tôi gọi điểm này là ngã tư tạp hoá. Hôm nay tôi cũng gọi tương tự. Bà lão gặp tôi thấy ngờ ngợ, nửa nhận ra nửa không, nhưng vẫn rất chu đáo: “Để ta chạy về nhà lấy trứng rồi nấu cho ăn”. Sau rồi bà cũng nhận ra tôi, chính là cái thằng hay lang thang khu này và hay chui vào quán xin ăn, xin nước, xin ngủ trưa nhờ, điều đó khiến tôi xúc động đáo để.

Hôm nay tôi may mắn được gặp cả 4 thế hệ gia đình ông bà ấy. Thế hệ thứ 4 sinh ra khi nơi này đã phát triển du lịch thám hiểm được nhiều năm. Hai đứa trẻ chưa đến tuổi đi học giao tiếp với người trong gia đình bằng tiếng Kinh. Đặc biệt có đứa lớn khi gặp tôi còn chào hỏi bằng tiếng Anh: “Can I help you?” Bố mẹ hai đứa trẻ thì linh động hơn, giao tiếp với con bằng tiếng Kinh, nói chuyện với nhau và với mẹ mình bằng tiếng Ta’Oi và giao tiếp với khách bằng giọng Huế đặc. Riêng có bà già, lần này tôi mới nhận ra là bà giao tiếp bằng tiếng Kinh không được tốt. Việc ở đây hầu hết là chồng bà bán hàng và tiếp khách. Lần này, con gái bà dịch giúp lời tôi đến bà.

Bà chủ quán khoe với tôi rằng tình hình làm ăn ngày càng tiến triển và thuận lợi. So với tình hình của năm 2015 (năm đầu tiên dân bản A Hưa đi làm dịch vụ lưu trú), bây giờ rõ là một trời một vực. Là một tác nhân nhỏ tham gia vào ngành công nghiệp du lịch, dù không lấn quá sâu, bà lão chủ quán có quyền tự hào khi khoe với tôi rằng, gia đình chục miệng ăn của bà trụ lại được ở ngã tư này. Bà khoe so với 3 năm trước, quán bà giờ đã to hơn rất nhiều. Những cây gỗ lớn, tận dụng từ đợt hai ông bà xây lại căn nhà sàn, được dùng làm cột kèo cho quán. Mái nhà được lợp lại bằng fibro xi măng chắc chắn. Mấy bộ bàn ghế tre cũng được sắm mới. Trải qua cơn nước đại hồng thuỷ ở lũ lụt cũng vẫn nguyên vẹn. Mấy con người linh hồn của quán thì vẫn chân chất như trước đây, có thêm đứa cháu tập toẹ biết tiếng Anh, thế là đủ.

Người Tà Ôi sống ở vùng biên của Thừa Thiên Huế lâu năm, hầu hết là tội phạm trốn lên đây từ thời còn triều đình Đại Việt, hoặc là dân được phân đất trong thời kỳ xây dựng các vùng kinh tế mới. Người Kinh nắm quyền quản lý từ đất cát đến chính quyền ở đây, thường chê cười người Tà Ôi rằng họ “không biết làm ăn“. Có câu chuyện này tôi đã được nghe tới 3 lần từ 3 người khác nhau – một gia đình người Kinh bán nước trên đường Hồ Chí Minh, chú lái xe hay đón chúng tôi từ Phú Bài lên A Lưới, và một nhà nhân học – rằng:

“Ngày xửa ngày xưa, một người Kinh lên rừng gặp một người Tà Ôi vác nải chuối rừng khổng lồ vừa hái, bèn ngỏ ý muốn mua. Dù thoả thuận trả giá cao đến mấy, người dân tộc kia quyết tâm không bán. Cuối cùng, người Tà Ôi kia mang nải chuối về bản chia đều cho tất cả mọi người. Từ đó, người Kinh trong vùng nhận xét rằng: Ôi dồi ôi, mấy cái thằng ông mãnh người Tà Ôi chả biết gì về lợi nhuận.”

Nhìn dưới góc độ phê phán, câu chuyện này thể hiện sự áp đặt về tri thức của người Kinh lên những dân tộc khác, rằng quan điểm về văn minh, tiến bộ và sự phát triển của họ mới là chuẩn. Khi một dân tộc khác tổ chức cuộc sống nằm bên ngoài logic và toan tính lợi nhuận của người Kinh, người Kinh cảm thấy hoặc mình thượng đẳng, hoặc mình bị đe doạ. Luôn miệng chê người Tà Ôi không biết buôn bán, nhưng vẫn khối người Kinh ở đây quên mất rằng ngay khi di cư đến A Lưới, người Kinh đã vừa mở đường xá để buôn bán, vừa chiếm luôn đất mặt đường. Dân Tà Ôi đi chợ của riêng họ, phải đi xe máy men theo con đường núi mãi phía trên.

Nhưng đến ngày nay, nếu như nói đến kinh doanh theo logic trăm năm của người Kinh, người Tà Ôi ở đây đang dẫn trước xa. Họ động não nhiều hơn, thế hệ trẻ phát triển nhận thức, có nhiều sản phẩm du lịch tốt, tích luỹ được nhiều của cải và dần có tiếng nói trong khu vực. Ngày trước, có bác dân thổ địa ở đây bảo tôi rằng, nhiều khái niệm không tồn tại trong tiếng Tà Ôi, người Tà Ôi phải mượn nguyên si từ người Kinh. Trong lời qua tiếng lại của 4 thế hệ trong gia đình ở quán nước, tôi nghe loáng thoáng những từ như “doanh thu”, “đông khách”“du lịch” xen lẫn với những câu hội thoại bản địa. Tôi khá chắc rằng, người Tà Ôi ở đây hiểu về 4 từ trên với nội hàm dày dặn không kém gì người ở xuôi.

Chỉ là, với tư cách một người ngoài đi lang thang vạ vật qua chốn này, tôi thấy hơi luyến tiếc khi nhìn những đứa trẻ từ nay về sau này sẽ dùng tiếng Kinh của chúng ta làm ngôn ngữ chính, và nghĩ tới cả nhiều đứa trẻ thành thị sau này sẽ nói tiếng Anh nhiều hơn tiếng mẹ đẻ. Chấp nhận làm người chơi giỏi ở luật chơi cuộc đời này tức là đánh đổi những gì sẵn có ở những luật chơi khác, bao gồm cả một phần ký ức và đặc biệt là văn hoá mà ngôn ngữ từng góp phần vẹn toàn. Hình ảnh tạp hoá ở ngã tư này, đối với tôi có chút ít ẩn dụ và hàm ý, cho thật nhiều những lựa chọn thiếu vắng tự do.

06.06.2022


Advertisement

1 bình luận về “(44): “Ngã tư tạp hoá..”

Add yours

  1. Em đọc bài anh viết sau một ngày phải nói quá nhiều thứ ngôn ngữ không phải là của mình. Kẻ tạo ra luật chơi không ép ai theo, nhưng để được chơi chúng ta lại buộc mình thành kẻ theo luật. Trong những ngày tháng lang thang trong mê cung của những luật lệ này khác, chỉ thật lòng muốn ngồi xuống thôi – ngồi xuống tựa mình vào đâu đó, vào ai đó mặc đời trôi nổi.
    P/s : nhìn ảnh Huế là lại muốn đi rồi, em chưa có dịp được đến nơi trong ảnh. Mong có một ngày được lang thang ở đây, khi cảnh quan chưa bị “Kinh hoá” 😀

    Đã thích bởi 1 người

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Tạo một blog trên WordPress.com

Up ↑

%d người thích bài này: